6 cách nuôi dạy trẻ phát triển một cách tích cực

1. Không phàn nàn

6 cách nuôi dạy trẻ phát triển một cách tích cực - 1

Melissa Baldauf thường lái xe đưa các con đi học khá xa và cô luôn phàn nàn rằng trời mưa quá to hay các con sẽ không kịp giờ mất. Tuy nhiên, chính hành động này của Melissa lại là nguyên nhân cho những biểu hiện tiêu cực của các con.

Cha mẹ càng than phiền nhiều về những vấn đề như công việc, tiền bạc, các khó khăn và thể hiện sự bi quan thì trẻ nhỏ cũng sẽ nhanh chóng học theo vào có những biểu hiện tương tự.

Đối với Jenn McCreary, một người mẹ có cặp song sinh ở Philadelphia thì việc gia đình cô thường làm nhất vào buổi tối chính là từng thành viên sẽ kể về những điều tốt và không tốt đã làm trong ngày. Sau đó, thay vì than phiền về những việc chưa tốt của con, Jenn lại tập trung nhiều hơn vào việc tốt. Thói quen này giúp thúc đẩy sự lạc quan cho trẻ từ khi còn nhỏ.

2. Giao việc phù hợp lứa tuổi của con

6 cách nuôi dạy trẻ phát triển một cách tích cực - 2

Ngay trước khi 2 con trai của Priscilla Baker bắt đầu đi mẫu giáo, cô đã liệt kê danh sách những việc mà các con cần làm vào mỗi sáng như gấp chăn, mặc quần áo và dọn dẹp phòng ngủ. Priscilla cho biết con sẽ không được ăn sáng nếu hoàn thành đầy đủ những hoạt động này vào buổi sáng, và dần dần cả 2 cậu con trai đã làm những việc này như một thói quen với thái độ khá vui vẻ. Điều này không chỉ giúp bản thân người mẹ được giảm bớt công việc mà các con cũng sớm hình thành tính ngăn nắp, gọn gàng.

Tiến sĩ Tamar Chansky, nhà tâm lý học trẻ em và là tác giả của cuốn “Freeing Your Child from Negative Thinking”, cho biết: “Giao cho trẻ những việc nhà vừa với khả năng, lứa tuổi sẽ giúp chúng chủ động và phát triển tích cực. Một đứa trẻ 2 tuổi có thể tự dọn đồ chơi của mình, hay đứa trẻ 3 tuổi có thể biết để quần áo bẩn vào đúng vị trí, hoặc khi trẻ 4 tuổi, chúng sẽ biết đem bát đũa bẩn đến bồn rửa. Đến khi 5 tuổi, trẻ biết đổ rác và 6 tuổi là lúc dạy trẻ giặt quần áo”.

3. Khuyến khích trẻ

6 cách nuôi dạy trẻ phát triển một cách tích cực - 3

Tất cả cha mẹ đều luôn muốn bảo vệ con tránh khỏi những rủi ro hoặc tai nạn về thể chất như ngã, xước chân tay. Nhưng nếu cứ giữ con khư khư thì có thể chúng sẽ chẳng biết làm gì hoặc thậm chí không biết chơi đùa với bạn bè. Nhiều cha mẹ vì không muốn con bị ngã nên không cho con chơi bóng đá, bóng chuyền… Tuy vậy, vận động thể chất không chỉ tốt cho sức khỏe mà còn giúp con tự tin hơn. Vì thế các bậc phụ huynh hãy khuyến khích con chơi thể thao, đừng quá lo lắng về các chấn thương.

Michael Thompson, tác giả của cuốn “Homesick and Happy” cho rằng: “Một đứa trẻ học mẫu giáo đã có thể tự chơi một mình ở sân nhà và bố mẹ chỉ cần quan sát từ xa để đảm bảo giải quyết các tình huống ngoài ý muốn. Theo thời gian, việc này sẽ hình thành tính độc lập, tự chủ cho trẻ và chắc chắn cha mẹ sẽ tự hào về tính cách này của con”.

4. Dạy trẻ nên suy nghĩ trước khi phản ứng

6 cách nuôi dạy trẻ phát triển một cách tích cực - 4

Khi tiến sĩ Reivich nghe thấy một học sinh lớp 2 đã gọi con gái mình là béo thì điều đầu tiên cô muốn làm là gọi cho bố mẹ học sinh kia để họ dạy lại con mình. Nhưng sau đó, cô quyết định hỏi con mình cách phản ứng nếu lần sau bị bạn bè trêu vì cô muốn con gái mình biết cách tự bênh vực và bảo vệ mình.

Và đây là cách giải quyết mà con gái đã nói với Reivich nếu gặp lại tình huống đó: “Con sẽ nói sẽ bạn rằng, thứ 1 tôi không béo, thứ 2, nói người khác như vậy thật thô lỗ và chẳng tốt đẹp gì”.

Hãy để trẻ cố gắng giải quyết mọi thứ và tập cách suy nghĩ kỹ trước khi phản ứng với các tình huống. Việc này giúp trẻ lạc quan hơn trong tương lai.

5. Khuyến khích con

6 cách nuôi dạy trẻ phát triển một cách tích cực - 5

Nhà tâm lý học Andrew Shatté cho biết, trẻ sẽ phản ứng tiêu cực với những việc lần đầu tiên thực hiện như: “Con không biết chơi môn thể thao này”, “Con không biết làm toán”, “Con sẽ không thể chơi bóng đá được đâu”,… Trong những tình huống này, cha mẹ nên khuyến khích để con thay đổi quan điểm rằng mình có thể làm điều đó, rằng đây chỉ là khó khăn ban đầu và “Các bạn làm được thì con cũng làm được đúng không nào?”.

Nhớ đừng vội chê hoặc phàn nàn khi con mới làm việc gì đó mà chưa thành công. Hãy cứ động viên, khuyến khích con nhé cha mẹ.

6. Sống thực tế

6 cách nuôi dạy trẻ phát triển một cách tích cực - 6

Khi gia đình Tracy Reinert chuyển đến nơi ở mới, đứa con trai 6 tuổi của cô đã phàn nàn rằng: “Con không có bạn bè ở đây”. Cô đã an ủi và nói với con rằng: “Con đã có rất nhiều bạn bè khi còn ở nhà cũ, và ở đây là nơi hoàn toàn mới, con cần thời gian làm quen và sẽ nhanh chóng kết bạn được thôi”.

Khi trẻ gặp khó khăn, hãy trấn an con bằng những lời nói tích cực nhưng phải luôn thực tế, không để con chờ đợi hay mong mỏi những điều không có thật vì điều này sẽ phản tác dụng, khiến trẻ trở nên tiêu cực. Sự lạc quan đòi hỏi trẻ phải có suy nghĩ thực tế và sẵn sàng đối mặt với mọi vấn đề.

Những bài học không có trong sách vở, cha mẹ nhất định phải dạy con

Mặc dù không thể dạy trẻ mọi thứ, nhưng có một số kỹ năng quan trọng mà mọi bậc cha mẹ đều nên dạy con, nhất là…

Nam sinh đoạt “cú đúp” Huy chương vàng Olympic quốc tế giành học bổng 6,4 tỷ

Nếu ai từng theo dõi kết quả Olympic quốc tế 2017 thì chắc hẳn sẽ nhớ ngay đến hình ảnh em Đinh Quang Hiếu (học sinh lớp 12, trường THPT Chuyên Khoa học tự nhiên) đã xuất sắc giành Huy chương vàng (HCV) tại kỳ thi Olympic Hóa học quốc tế năm 2017 được tổ chức ở Thái Lan.

Được biết, đây là lần thứ hai liên tiếp Hiếu giành được HCV tại kỳ thi danh giá này. Tham dự kỳ thi Olympic Hóa học quốc tế, Hiếu dành 92,13/100 điểm; đứng thứ 7/297 thí sinh và là thí sinh đạt điểm cao nhất của đội tuyển Việt Nam.

Nam sinh đoạt “cú đúp” Huy chương vàng Olympic quốc tế giành học bổng 6,4 tỷ - 1

Nam sinh Đinh Quang Hiếu đoạt “cú đúp” Huy chương Vàng tại Olympic Hóa học quốc tế

Với bảng thành tích học tập “khủng”, Đinh Quang Hiếu là một trong những thí sinh được ĐH Y Hà Nội – một trường ĐH danh giá tuyển thẳng vào ngành y đa khoa năm 2017. Tuy nhiên, với đam mê nghiên cứu khoa học, Hiếu vẫn quyết định học tại ĐH Khoa học Tự nhiên.

Không dừng lại ở đó, với ước mơ được bay cao, bay xa hơn nữa, từ nhiều tháng trước, Đinh Quang Hiếu đã chuẩn bị hồ sơ, viết luận văn để tìm kiếm học bổng đi du học nước ngoài.

Đúng là hạnh phúc sẽ luôn mỉm cười với những người biết nỗ lực và phấn đấu khi mới đây, Đinh Quang Hiếu vừa nhận tin mình trúng tuyển và kèm theo học bổng toàn phần trị giá 6,4 tỷ vào Viện công nghệ số 1 thế giới MIT – một trường ĐH hàng đầu về công nghệ tại Mỹ.

Chia sẻ về giải thưởng đầy danh giá này, Đinh Quang Hiếu cho hay: “Từ nhỏ em đã rất đam mê với nghiên cứu khoa học. Được biết, MIT là nơi đào tạo nhiều nhà khoa học lớn, các giáo sư đầu ngành trong lĩnh vực khoa học. Em khao khát có thể trở thành một thành viên của MIT để được tiếp xúc, làm việc với những giáo sư đầu ngành trong lĩnh vực này để thỏa niềm đam mê.

Vậy là, trong thời gian ôn luyện để dự thi Olympic quốc tế 2017 em đã bắt tay vào việc viết bài luận để hoàn thiện hồ sơ, từng bước chinh phục MIT. Bên cạnh đó, hồ sơ đi du học tại Mỹ cũng yêu cầu khá nhiều chứng chỉ như phải có chứng chỉ chuẩn hoá SAT, TOEFL hay tham gia các hoạt động ngoại khoá. Vậy là em tranh thủ từng chút thời gian để có được những chứng chỉ này.

Rất may sau đó em đã đạt 1500 điểm SAT1, 104 điểm TOEFL,  đạt tuyệt đối 800/800 điểm Toán, 800/800 điểm Lý, 800/800 điểm Hóa ở kỳ thi SAT 2”.

Được biết, bài luận trong hồ sơ gửi đến MIT có những yêu cầu rất khắt khe, vậy làm sao để nam sinh Đinh Quang Hiếu có thể thuyết phục ban giám khội đồng tuyển sinh? Chia sẻ về điều này, Hiếu cho hay: “Bài luận của MIT chỉ yêu cầu ứng viên viết khoảng 250 từ giới thiệu về bản thân. Bài luận của em chỉ xoay quanh niềm đam mê với nghiên cứu khoa học, sở thích là bóng đá và vấn đề về ô nhiễm nguồn nước ở Hà Nội và em mong muốn với những nghiên cứu khoa học có thể giải quyết được điều đó”. 

Cô giáo 40 năm dạy chữ miễn phí cho trẻ nghèo

Trẻ chậm đọc, viết, trí nhớ kém hễ được cô giáo Võ Thị Son kèm cặp trong vài tháng là đánh vần, nhận biết được…

Mùng 3 Tết thầy!

Mỗi dịp Tết đến Xuân về chúng ta thường trở về nhà đoàn viên cùng gia đình, cùng quây quần bên mâm cơm ấm áp sau quãng thời gian xa cách. Bên cạnh đó Tết cũng là dịp để người ta chúc Tết, nhớ ơn các thầy cô – những người lái đò mang kiến thức đến cho bao thế hệ học trò.

Trong quan niềm của người Việt ta thì mùng 3 Tết chính là ngày chúc Tết các thầy cô giáo. Bởi dẫu sao “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, ngày này còn gợi nhắc mỗi người nhớ đến truyền thống tôn sư trọng đạo. Hai tiếng “thầy cô” thiêng liêng, trân quý và có ý nghĩa sâu sắc lắm. Có lẽ vì thế nên vào mùng 3 Tết hằng năm những người học trò đều đến nhà thầy cô mình để gửi trao những lời chúc với tất cả sự kính trọng, yêu thương nhất.

Chẳng cần những món quà sang trọng, hoa mỹ, chỉ cần tấm lòng của học trò cũng khiến các thầy cô vui lòng và hạnh phúc lắm rồi. Thế nhưng dường như ngày Tết thầy cũng không còn mang phong vị truyền thống mà có những biến đổi theo sự phát triển của xã hội.

Tôi còn nhớ những ngày còn là cô cậu học trò cấp ba, Tết nào cả lũ cũng kéo nhau đến nhà thầy cô, mọi thứ tuy giản dị nhưng lại ấm áp vô ngần. Cuộc sống trôi đi, những giá trị xưa cũ cũng ngày một phai nhòa, nhiều người trong số chúng ta không còn mong đợi quá nhiều ngày Tết nữa, và cũng không ít ý kiến cho rằng Tết thời hiện đại đang “nhạt” dần.

Người ta không còn mang từ “nghĩa” trọn vẹn khi đến chúc Tết thầy cô như ngày xưa, nhiều học trò đến nhà thầy cô với mục đích tư lợi, lòng thành kính cũng bị lợi ích che mờ. Tất nhiên là chỉ có một bộ phận nhỏ, “con sâu làm rầu nồi canh” nhưng quả thực đây là điều hết sức đáng buồn.

Dù đi hết cuộc đời này cũng chẳng ai có thể đong đếm được công ơn dạy dỗ của thầy cô. Người đầu tiên đưa tay chỉ ta từng nét chữ, dạy ta cách đánh vần và rồi cũng chính thầy cô là người giúp ta vỡ lẽ nhiều điều, ta hiểu mình nên làm gì và không nên làm gì. Cho đến khi rời xa, trong lòng mỗi người học trò vẫn dành rất nhiều sự kính trọng, biết ơn đối với những người thầy, người cô của mình.

Học, không chỉ theo nghĩa cầm bút, cầm vở, ngồi ở lớp học nghe giảng, mà chữ dạy của thầy cô còn mang ý nghĩa lớn lao hơn như thế gấp nhiều lần. Bạn sẽ chẳng bao giờ hiểu được rằng thầy đã thức bao đêm khi bạn “lỡ lời” không tôn kính, cô đã khóc khi thấy bạn vấp ngã và cô đã dìu bạn đứng dậy, dịu dàng như mẹ hiền.

Ngày Tết dù có bận trăm đường nghìn lối thì hãy cứ trở về vui vầy bên gia đình, bạn cũng chớ quên gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy cô của mình. Tất nhiên nhiều người sẽ phản biện rằng tại sao suốt 365 ngày không gửi lời yêu thương đến thầy cô mà phải đợi đến mùng 3 Tết?

Mùng 3 Tết là ngày của Thầy, là truyền thống lâu đời của dân tộc nên mọi người sẽ dành trọn một ngày để chúc Tết thầy cô. Nhưng không có nghĩa rằng chúng ta không biết ơn “người lái đò” trong suốt năm dài tháng rộng đâu nhé!

Thi Thi

Bản Khó, bản Nghèo – Điểm sáng học tập nơi vùng cao

Đói nghèo vẫn theo con chữ

Theo các cụ cao niên ở bản Khó, bản Nghèo, hai bản này có cách đây khoảng hơn 400 năm, thuộc Mường Ca Da cổ – là một Mường lớn của đồng bào Thái ở miền tây Thanh Hóa.

Những năm trước, để đi từ trung tâm xã Hồi Xuân vào được bản Khó, bản Nghèo dù có khoảng 4-5 km nhưng phải mất cả ngày trời mới đến nơi. Đường sá đi lại khó khăn, giao lưu buôn bán của người dân gần như bị cô lập. Bởi thế, cái nghèo, cái khó ở nơi này cứ mãi không dứt ra được.

Điều đáng nói là dù khó khăn, thế nhưng con em hai bản Khó, bản Nghèo vẫn quyết tâm vượt khó để học bằng được cái chữ.

Kể về việc theo đuổi con chữ để thoát nghèo của con em trong bản, ông Cao Minh Hưng (57 tuổi, ở bản Nghèo) còn nhớ như in những ngày lội đèo, lội suối để lấy chữ. Ông kể: “Thời chúng tôi học tiểu học cách đây hơn 40 năm, học sinh bản Nghèo phải đi bộ hai, ba cây số xuống bản Khó để học. Còn học THCS và THPT phải đi bộ gần 10km ra trung tâm huyện mới có trường. Nhiều hôm mưa lớn học sinh phải nghỉ học hoặc khi đi học gặp mưa rừng, lũ quét, lũ ống, học sinh phải ngủ lại lớp, nhịn đói là chuyện thường.

Hàng năm, các gia đình trong bản thiếu đói lương thực tới sáu tháng, nên nhiều học sinh thường xuyên đứt bữa khi đến trường. Được thầy, cô giáo ở dưới xuôi lên bám bản, vừa dạy cái chữ, vừa động viên không bỏ học, nên dù khó khăn đến mấy, lớp lớp học sinh của bản Khó, bản Nghèo vẫn đến trường học cái chữ. Thầy cô giáo dưới xuôi lên lúc nào cũng nhắc chúng tôi rằng chỉ có con chữ mới đẩy lùi được cái đói, cái nghèo. Muốn không còn đói, không còn nghèo thì cố mà đi học”.

Rồi để con em hai bản đi học ra trung tâm xã đỡ vất vả và nguy hiểm, người dân bản Nghèo, bản Khó đã cùng nhau ngày đêm tự phá đá, cõng đất làm con đường từ bản ra trung tâm xã Hồi Xuân. Con đường này được đồng bào tôn tạo, tu bổ hàng năm, cho đến khi Nhà nước đầu tư nâng cấp, mở rộng, rải nhựa cách đây gần 5 năm. Nhờ vậy, con em hai bản đi học ở trung tâm xã cũng thuận lợi hơn, việc giao thương buôn bán của hai bản cũng bắt đầu phát triển, đời sống đồng bào cũng dần được cải thiện.

Hàng chục người đỗ đạt, có cả bằng thạc sỹ

Trong niềm tự hào, anh Cao Văn Tùng – Bí thư chi bộ bản Nghèo cho biết: “Người thành đạt đầu tiên của bản Nghèo là cụ Cao Ngọc Bích (sinh năm 1926, dân tộc Thái). Trước năm 1954, nhờ đi theo kháng chiến mà cụ Cao Ngọc Bích là người đầu tiên của bản biết chữ quốc ngữ.

Sau năm 1954, cụ Bích được học hết lớp 7, rồi tham gia cách mạng, làm cán bộ, thầy giáo dạy các lớp “bình dân học vụ” tại địa bàn các xã của huyện Quan Hóa. Cụ Bích nghỉ hưu khi là trưởng phòng văn hóa. Cụ là người đầu tiên của bản Nghèo thành đạt, làm cán bộ”.

Cũng theo anh Tùng thì hiện nay, trong bản có hàng chục em đang theo học ĐH, CĐ, TCCN. Gia đình anh Tùng cũng có 2 con đang theo học Học viện cảnh sát và Trung cấp Công an.

“Mặc dù cuộc sống gia đình còn nhiều khó khăn, nhưng các cháu vẫn chịu khó vươn lên học tập. Chúng tôi cũng luôn động viên các con chăm chỉ học tập. Vì chỉ học mới giúp gia đình thoát khỏi đói nghèo” – anh Tùng nói.

Theo thống kê, toàn huyện Quan Hóa có 123 bản, làng, nhưng điều đặc biệt là bản Khó là địa phương có nhiều người đỗ đạt và làm cán bộ nhất. Bản Khó hiện có 116 hộ/450 nhân khẩu, nhưng có hơn 60 người đã tốt nghiệp ĐH, CĐ, THCN; trong đó có một người là cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện có trình độ thạc sĩ.

Bản Khó hiện có hơn 10 người học hành đỗ đạt, đã, đang làm cán bộ các cấp trong huyện như: ông Hà Văn Cao- nguyên Tỉnh ủy viên, nguyên Bí thư huyện ủy Quan Hóa; ông Lương Chí Ên – nguyên Trưởng Ban dân tộc tỉnh Thanh Hóa, nguyên Bí thư huyện ủy Quan Hóa; ông Lữ Văn Sơi – nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Quan Hóa; bà Lương Thị Lượng – nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Quan Hóa… Ngoài ra, còn nhiều người quê bản Khó, hiện đang làm tại các cơ quan, trường học, đơn vị lực lượng vũ trang trong huyện, tỉnh.

Còn ở bản Nghèo (gồm 114 hộ với 520 nhân khẩu) cũng có 66 người đã tốt nghiệp ĐH, CĐ, TCCN, 1 người có trình độ Thạc sỹ; hàng chục người đang học ĐH, CĐ, THCN, nhiều cán bộ huyện Quan Hóa cũng xuất thân từ bản Nghèo.

Ông Cao Bằng Nghĩa – Chủ tịch Hội Khuyến học huyện Quan Hóa cho biết: “Phong trào học tập của người dân hai bản Khó, Nghèo cách đây vài chục năm đã trở thành điểm sáng của huyện Quan Hóa. Hiện nay, hai bản này là một trong những địa phương của huyện có quỹ khuyến học của bản, quỹ khuyến học từng dòng họ, nhằm khuyến khích, động viên các cháu đạt học sinh giỏi, thi đỗ ĐH, CĐ, THCN hàng năm.

Điều đặc biệt hiện nay ở bản Khó, bản Nghèo là các thầy, cô giáo không phải vận động trẻ em đến trường, bởi phụ huynh đã nhận thức, tự nguyện đưa 100% số trẻ mầm non đến lớp. Cho con em đến trường học chữ, tiếp thu tri thức, cố gắng học hành đỗ đạt để làm cán bộ, được người dân bản Khó, bản Nghèo nhận thức rất rõ”.

Nguyễn Thùy

Học tiếng Anh mỗi ngày: Cách bày tỏ tình yêu lãng mạn nhất!

Trước tiên, “love” là một động từ bày tỏ tình cảm với đối phương.

Love (verb): yêu, yêu thương, yêu mến

Ex: No matter what he does, I still love him.

(Mặc kệ anh ấy có làm gì, tôi vẫn yêu anh ấy.)

Ngoài ra, ‘love’ còn là danh từ chỉ tình yêu, tình thương không những với người mình yêu mà còn với người thân gia đình và cả Tổ quốc.

Love (noun): lòng yêu, tình thương

Ex: Everyone should have the love of his or her country, that’s the key of the country’s unity.

(Ai cũng nên có lòng yêu nước, đó là chìa khóa dẫn đến sự thống nhất đất nước.)

Không chỉ là tình yêu, ‘love’ còn là danh từ chỉ mối tình đã từng hoặc đang trải qua…

Love (noun): mối tình

Ex: I did have feelings for her. She was my first love.

(Đúng là tôi đã từng có tình cảm với cô ấy. Cô ấy là mối tình đầu của tôi.)

… hoặc trở thành chủ thể trong câu nói:

Love (noun): người yêu

Ex: How are you today, my love? Do you feel tired?

(Người yêu anh, hôm nay em cảm thấy thế nào? Em có thấy mệt không?)

Nếu thêm đuôi ‘-ly’ vào sau từ ‘love’, ta sẽ được một tính từ chỉ sự đáng yêu, dễ thương của ai đó hoặc vật gì đó.

Lovely (adjective): đáng yêu, dễ thương

Ex: What a lovely puppy! Thank you so much for presenting me with this beautiful creature!

(Thật là một chú cún đáng yêu! Cảm ơn bạn rất nhiều vì tặng tôi sinh vật đẹp đẽ này!)

Còn nếu thêm từ ‘bird’ vào đằng sau sẽ xuất hiện một danh từ chỉ một người si tình.

Lovebird (noun): kẻ si tình

Ex: He would do anything for her despite her hatred for him. He is such a lovebird.

(Anh ta sẽ làm mọi thứ cho cô ấy cho dù cô ấy rất ghét anh ta.

Hãy đến với một số câu trắc nghiệm sau để sử dụng ‘love’ và những từ ngữ liên quan một cách thành thạo nhé!

Nhật Hồng

Ân nghĩa mãi mãi không phai mờ với Giáo sư Phan Ngọc Liên

Mới đấy mà đã gần 50 năm trôi qua, kể từ ngày anh chị em chúng tôi được học những bài học đầu tiên từ Thầy – GS Phan Ngọc Liên.

Ngày ấy, “đại bản doanh” của khoa Lịch sử đặt ở một làng cách thị trấn Đoàn Đào, Hưng Yên chừng năm, sáu kilômét. Giảng đường là những nếp nhà tranh tre nứa lá, do thầy, trò tự dựng, lợp. Lớp học của chúng tôi bé tí, chỉ kê đủ năm bộ bàn, ghế được ghép bằng những thân tre buộc chặt. Sàn lớp đổ xỉ than, đi kêu lạo xạo.

Cả lớp chỉ có 10 anh chị em, 7 nam, 3 nữ. Và thầy chủ nhiệm khoa Lê Văn Sáu thường khen, chúng tôi là những “hạt gạo trên sàng”. Chả là, sau 3 năm học tập, đại đa số anh chị em ra công tác, Khoa chỉ chọn giữ lại có 10 người để học tiếp năm thứ 4.

Hôm ấy, khoảng đầu Xuân năm 1969, trời mưa lất phất rắc như bụi phấn, hơi se lạnh, cây xoan trước lớp tỏa hương hăng hắc. Cả lớp chúng tôi cứ hai người một bàn, ngồi ngay ngắn và hồi hộp chờ thầy vào lớp. Qua thông tin “truyền khẩu” từ cán bộ lớp, thì thầy giáo dạy chuyên đề Phương pháp giảng dạy cho chúng tôi là một người miền Nam, mới ở Liên Xô về. Cả lớp háo hức lắm, và ngưỡng mộ những người thầy đã từng du học ở Liên Xô về chẳng khác gì đón chào thiên sứ từ trên thiên đường bay tới.

Sau vài phút, một người đàn ông dong dỏng cao, da trắng, khuôn mặt trái xoan bước vào lớp. Chúng tôi vừa đứng dậy chào, vừa… bí mật quan sát thầy. Với chất giọng trầm và ấm, thầy giới thiệu đôi nét về mình và làm quen với từng sinh viên trong lớp.

Tôi vui mừng vì nhận ra Thầy chính là người đã chụp ảnh cho mấy chị em chúng tôi cùng các thầy Chiêm Tế, Trương Hữu Quýnh, Đặng Đức An… và bác chủ nhà dân tộc Tày ở Việt Bắc cuối năm 1966. Hồi đó chúng tôi đang học năm thứ 2. Thầy còn trêu tôi sinh viên năm thứ 2 sao mà bé thế như học sinh cấp 2. Tôi e thẹn trả lời Thầy “vâng, vì em đi học trước tuổi Thầy ạ”.

Ba tiết học trôi qua sao nhanh thế. Ra khỏi giảng đường, chúng tôi sà ngay vào bếp ăn. Ngày đó, cả khoa, thầy và trò đều ăn chung một bếp. Thầy trò chúng tôi ngồi quây quần chung một mâm. Gọi là mâm cho sang chứ thời ấy “vũ khí” ẩm thực bất li thân của chúng tôi chỉ có một chiếc bát tô sắt tráng men và một chiếc thìa. Bát tô được xếp lên bàn và chị nuôi cứ thế xới cơm, rồi chan canh “toàn quốc”, rồi xếp một vài miếng đậu kho mặn.

Thỉnh thoảng lắm mới có một hai miếng thịt, thái mỏng như giấy, gắp lên không cẩn thận dễ bị gió thổi bay. Bát ai nấy bưng, ngồi tụ tập thành mâm, chỉ loáng cái là hết ngay tô cơm. Nhiều hôm còn chả có cơm, vỏn vẹn chỉ có chiếc bánh bột mì hấp hoặc luộc, vừa đen vừa rắn, nằm gọn trong bát. Chúng tôi gọi là nắp hầm, ăn veo một cái là hết.

Đang thời chiến, lại tuổi ăn tuổi lớn, chúng tôi chả bao giờ được ăn no bụng, ấy vậy mà vẫn học hành chăm chỉ, hàng tuần vẫn lên Hiệu bộ ở Đoàn Đào gánh gạo, gánh than cho nhà bếp, hoặc lấy sách cho lớp. Chị cấp dưỡng ưu tiên, bưng đặt trước mặt Thầy một tô cơm, một ít rau muống xào cùng vài ba miếng thịt kho.

Chúng tôi vừa ăn vừa trò truyện với Thầy. Thầy nhìn sang chúng tôi, như sực nhớ ra điều gì, Thầy bưng tô cơm, đĩa thức ăn, xẻ làm ba, bốn phần rồi xúc vào bát cho các chị ngồi cạnh Thầy. Phần còn lại, quay sang phía tôi, vừa trút cơm vào bát tôi, Thầy vừa trêu “dành cho cô học trò cấp 2, bé nhất lớp, ăn nhiều cho chóng lớn”. Mọi người cưới ầm lên vui vẻ. Tôi lí nhí nói lời cảm ơn Thầy. Thầy bảo, tôi quên, trưa nay bác chủ nhà dặn tôi về ăn cơm.

Thầy trìu mến nhìn lũ quỷ chúng tôi ăn ngon lành rồi kể chuyện về ngôi trường nào đó ở tận Liên Xô, nơi Thầy theo học. Thầy bảo, chúng ta chịu khó, chịu khổ vài năm nữa, hết chiến tranh, đất nước thống nhất, cả lớp chúng tôi sẽ là những hạt giống tốt cho các trường Đại học ở hai miền Nam – Bắc. Thầy thủ thỉ, ân cần. Chắc thương chúng tôi bị đói nên đã nhường cơm để chị em chúng tôi no lòng bữa đó.

Thời gian trôi đi, hết hè, kết thúc khóa học, tôi được ở lại Khoa công tác. Tôi vừa là trò, vừa là đồng nghiệp của Thầy. Sau một thời gian, tôi được đi học nghiên cứu sinh ở trường Đại học Tổng hợp Hoàng gia Praha, Cộng hòa Séc. Tôi nhớ rất rõ cảm xúc của mình khi nhận được lá thư của Thầy.

Chiều đông, tuyết rơi trắng xóa. Như thường lệ, chiều nào cũng vậy, từ thư viện hay giảng đường về kí túc xá là chúng tôi tạt qua phòng tin, mở hộp, tìm thư nhà. Thấy phong bì và nét chữ lạ, người gửi là Thầy, tôi không tin vào mắt mình. Và càng không hiểu sao Thầy lại gửi thư cho tôi. Trước khi đi học, tôi chỉ đến chào tạm biệt Thầy, cô. Từ đó cũng chưa có dòng thư nào gửi riêng về Thầy.

Tôi lóng ngóng, vội vàng xé bao thư và lướt nhanh từng dòng chữ. Linh tính như báo việc chẳng lành đang xảy ra với Thầy. Thầy hỏi thăm sức khỏe và việc học hành, nghiên cứu của tôi.

Và cuối thư Thầy báo tin, cô Dung, phu nhân của Thầy bị bệnh nan y, cô đang đau đớn trong cơn bạo bệnh. Thầy đã tìm nhiều thầy, nhiều bài thuốc, song hiện bệnh vẫn chưa thuyên giảm. Thầy bảo, nếu tìm ở Praha có thuốc đặc trị, nhờ mua về gửi cho cô.

Tôi bàng hoàng, ngơ ngác bước vào phòng mình. Cô giáo vốn khỏe mạnh là thế, cớ sao lại đổ bệnh. Tôi không thể mua nổi thứ thuốc Thầy cần vì thuốc đặc hiệu ấy không bán trên thị trường. Sau vài tuần nhờ cậy, tìm kiếm không có kết quả, tôi viết thư về xin lỗi Thầy mà lòng day dứt. Chỉ có việc cỏn con ấy mà tôi đã không làm được cho Thầy! Sau đó tôi được tin cô đã mất, và tôi càng ân hận, xót xa.

Về nước, tôi ghé thăm Thầy và các cháu. Trong căn hộ nhỏ ở tập thể Đại học Bách khoa, Thầy sống trong cảnh gà trống nuôi con. Thầy gầy rộc đi, đôi mắt trũng sâu, giọng nói trầm buồn, nặng trĩu. Căn phòng lạnh lẽo, trống trải. Tôi thắp nén hương trầm khấn cô và quà biếu Thầy chỉ là chiếc bút kim tinh làm kỉ niệm.

Cuộc sống cứ trôi đi theo một chiều về quá khứ. Quy luật nghiệt ngã của cuộc đời chẳng loại trừ ai. Thầy đã dũng cảm và kiên cường vượt lên tất cả để cống hiến cho lí tưởng, cho sự nghiệp. Thầy như cây nến, tự đốt cháy mình để thắp sáng cho bao thế hệ học trò kế bước. Ngày gia đình và Nhà trường tiễn đưa Thầy về cõi vĩnh hằng, em cũng không có mặt vì mẹ em cũng vừa mất trước Thầy một ngày, sợ trùng tang, em phải ở nhà.

Em đã có bao nhiêu là lỗi với Thầy, mà ân nghĩa của Thầy thì không bao giờ trả hết. Thấm thoắt đã gần 50 năm từ ngày đầu nghe bài Thầy giảng và 9 năm Thầy ra đi về cõi vĩnh hằng, gọi là thắp nén hương thơm làm mát dạ Người, mong Thầy tha thứ.

Học trò Đài Lân

Hà Nội, Xuân Mậu Tuất 2018

6 câu chuyện cảm động về giáo viên năm 2017

Quặn lòng thầy giáo vượt rừng “lấy” học sinh trở về lớp

Hai ngày nay em không xuất hiện ở lớp và đúng như linh cảm của người từng đi qua những nốt trầm cuộc đời: Em bỏ học. Nghe tới đó, lòng thầy nghẹn lại”

Đó là chia sẻ của thầy giáo Ninh Văn Dậu, Trường THPT Đinh Tiên Hoàng (xã la HDreh, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai) về cậu học trò Ksor Gôl – người đã cương quyết bỏ học mặc dù thầy và các bạn nhiều lần đến nhà và lên tận rẫy thuyết phục em quay trở lại.

Thầy Ninh Văn Dậu đã không quản ngại khó khăn, sau 4-5 lần vào nhà (khoảng 6km) và 3 lần lên rẫy phá mì của gia đình em (gần 20km), Gôl đã chính thức trở lại lớp học.

Được biết, thầy Dậu là giáo viên chủ nhiệm của lớp 12A2 Trường THPT Đinh Tiên Hoàng. Đầu năm học, lớp này có 42 học sinh. Sau Tết Nguyên đán, có đến 6 em bỏ học. Đến nay, thầy đã vận động được 4 em trở lại lớp, trong đó có Gôl.

“Khi tôi làm những việc này, mục đích đầu tiên là mong muốn các em trở lại lớp chứ không có gì to tát hơn. Các thầy cô ở trường chúng tôi cũng đều như vậy nên tôi chỉ là một trong số đó, không có gì cá biệt”, thầy Dậu khiêm tốn cho biết.

Khẳng định việc thầy Ninh Văn Dậu nhiều lần vượt hàng chục km đường núi, đến tận nhà vận động học sinh đến lớp có sức lan tỏa với toàn xã hội, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ đã gửi thư khen ngợi.

Chuyện cổ tích của thầy giáo và cậu học trò “tí hon”

Đinh Văn K’Rể là người dân tộc Hơ rê, em sinh ra đã mắc chứng bệnh hiếm gặp – Seckel (người lùn, đầu chim). K’Rể 9 tuổi nhưng chỉ cao vỏn vẹn 58 cm và nặng 3,9 kg.

Cuộc gặp gỡ giữa em và thầy giáo Đặng Văn Cương, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Dân tộc bán trú Sơn Ba cách đây 5 năm chính là khởi đầu cho câu chuyện cổ tích tuyệt đẹp về tình thầy trò nơi khó khăn nhất của huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

Năm K’Rể tròn 7 tuổi, thầy Đặng Văn Cương đã đón em về sống cùng với thầy tại nhà công vụ của nhà trường và bắt đầu hành trình gieo hy vọng cho em.

Sau 2 năm đến lớp trong tình yêu thương của bạn bè, thầy cô, giờ Đinh Văn K’Rể đã có thể viết được chữ O, số 1, em cũng đã dạn dĩ hơn rất nhiều, biết nói “ạ”, biết làm một số việc cá nhân. Đặc biệt em có thể quan sát, lắng nghe và hiểu hết những vấn đề xung quanh mình.

Xúc động và cảm phục trước nghị lực của trò, tình yêu thương của thầy, dù không có trong kịch bản chương trình của buổi tuyên dương thầy trò cuối năm 2017 ở Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phùng Xuân Nhạ đã đề nghị Ban tổ chức được lên sân khấu để đứng thật gần hai thầy trò K’Rể và được trao tặng một phần quà nhỏ từ cá nhân ông.

Chia sẻ về khoảnh khắc bế cậu học trò tí hon trên tay, Bộ trưởng nói rằng, đây là một trong những khoảnh khắc đáng nhớ và xúc động nhất trong cuộc đời làm thầy giáo, làm một nhà quản lý giáo dục như ông.

Thầy giáo ngồi xe lăn có hàng trăm học trò đỗ đại học

Đôi chân bại liệt nhưng với nghị lực phi thường, thầy giáo Lê Hữu Tuấn đã vượt lên nghịch cảnh và trở thành người “chèo đò” đưa hàng trăm học sinh nghèo xứ Thanh đến giảng đường đại học.

Đó là thầy giáo Lê Hữu Tuấn sinh năm 1983 tại xã Đông Thịnh (huyện Đông Sơn, Thanh Hóa). Năm 1991 khi đang là học sinh lớp 2 thì nghiệt ngã thay, đôi chân của thầy Tuấn không thể đi lại được.

Không thể tới trường do bệnh tật nhưng cậu tự học ở nhà và liên tiếp vượt qua các kì thi cấp 1, 2. Đặc biệt, năm 1998, Trường THCS Đông Thịnh đề nghị Tuấn đi thi học sinh giỏi cấp huyện, nhưng chỉ cho anh thi với mức đề dành cho học sinh lớp 7, anh không nghe mà đòi thi đề của lớp 9.

Tuấn sau đó đã không phụ lòng thầy cô khi mang về giải Nhì môn Toán. Lên cấp, Tuấn thi vào lớp 10 tại trường THPT Đông Sơn 1 và THPT chuyên Lam Sơn. Đỗ cả 2 trường, nhưng do sức khỏe nên Tuấn đã chọn trường gần nhà để theo học.

Đáng khâm phục hơn khi thầy Tuấn còn là thủ khoa của trường Đại học Hồng Đức, ngành Công nghệ thông tin. Sau khi tốt nghiệp đại học, thầy Lê Hữu Tuấn được bố trí công tác tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hóa nhưng thầy đã từ chối và trở về quê nhà mở lớp dạy học.

Đến nay, sau gần 10 năm mở lớp, số lượng học sinh của thầy Tuấn đỗ Đại học, Cao đẳng lên tới con số khoảng 700 người, trong đó có nhiều em đỗ vào các trường đại học có tiếng.

Được biết lớp học của thầy Tuấn đa số là học sinh nghèo, người tàn tật. Đối với những học sinh khuyết tật, anh không thu tiền. Nhà có 2 em theo học, thầy chỉ thu học phí 1 người.

Với nghị lực phi thường, thầy Tuấn đã được nhận học bổng do tổ chức RENCONTRES DU VIET NAM của Pháp; nhiều Bằng khen, Giấy khen các cấp, các ngành; được giải phóng sự ngắn với tiêu đề “Tôi không khuyết tật” và giải C báo chí toàn quốc.

Ngày 22/1/2014, thầy Tuấn còn được nhận thư khen của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về việc góp phần vào sự nghiệp trồng người của đất nước.

Rớt nước mắt chuyện đời cô giáo nhặt ve chai, chăm chồng ung thư

Mỗi nghề đều có sự cao quý riêng. Trút bỏ bộ quần áo đứng lớp, tôi cũng là người mẹ, người vợ. Thế nên làm gì ra tiền, miễn là lao động chân chính, tôi đều làm cả. Từ nhặt ve chai đồng nát, đến lau nhà, quét vôi, quét sơn… tôi không nề hà. Dẫu sao tôi vẫn thấy hạnh phúc bởi nhiều người còn khó khăn hơn gấp vạn”.

Trên đây là tâm sự của cô giáo Vương Thị Thùy – giáo viên dạy Mỹ thuật ở trường tiểu học Viên Sơn (phường Viên Sơn, thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Cô là một trong số các giáo viên đoạt Giải thưởng “Nhà giáo tâm huyết sáng tạo” năm 2017 do Sở GD&ĐT tổ chức nhân dịp 20/11.

Được biết vợ chồng cô Thùy đều là giáo viên môn Mỹ thuật ở Sơn Tây. Sau khi chồng lâm trọng bệnh, cô vừa đi dạy, vừa nhặt ve chai, vừa làm lao công, thậm chí đi quét sơn để chăm chồng và nuôi các con học tập.

Chia sẻ với PV Dân trí, cô Nguyễn Thị Thu Phương, Hiệu trưởng Trường tiểu học Viên Sơn cho biết: “Thùy là giáo viên Mỹ thuật nhưng năm nào cũng nhận được danh hiệu giáo viên dạy giỏi. Không những cô có nghiệp vụ tốt mà còn được nhiều học sinh, đồng nghiệp quý mến. Một số học sinh của cô cũng đoạt giải cao trong các cuộc thi Mỹ thuật cấp thị xã và đi dự thi thành phố.

“Tôi mới được điều động về trường 1 năm nay nhưng tấm gương của vượt khó của Thùy thật hiếm có. Cô đã vượt qua mọi khó khăn, làm từ giúp việc, đến nhặt ve chai, làm việc lặt vặt… Thậm chí khi đi giúp việc ở những gia đình khá giả, họ có nhiều sách truyện thừa, cũ bỏ đi, cô thu gom lại mang tặng những học sinh khó khăn trong trường. Cô ấy là tấm gương nghị lực trong cuộc sống”, cô Phương nhận xét.

Thầy cô giáo nhiều năm tình nguyện nấu cháo sáng cho học sinh

Nhiều năm qua, các thầy cô giáo Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở (THCS) Trung Thượng, xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn (Thanh Hóa) thức khuya, dậy sớm tình nguyện nấu cháo ăn sáng cho các em học sinh bán trú của nhà trường.

Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Thượng, đóng trên địa bàn xã Trung Thượng, huyện vùng cao, biên giới Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa có 125 học sinh, chủ yếu là con em đồng bào dân tộc Thái.

Do điều kiện địa hình, nhà ở các bản làng cách xa trường, phải qua khe, qua suối, đèo dốc, có những em học sinh nhà ở cách trường hơn 10km, vì thế các em phải ở lại bán trú, thường cuối tuần mới về thăm nhà một lần.

Hiện nay, nhà trường có 66 học sinh phải ở lại ăn bán trú tại trường. Hàng ngày, 2 bữa ăn chính của các em học sinh được nhà trường thuê người nấu phục vụ ăn tại trường, còn bữa ăn sáng các em phải tự lo.

Tuy nhiên, do trường học đóng trên địa bàn xã miền núi, địa điểm ăn sáng ít. Có những em ăn sáng bằng mì tôm, còn có những em do điều kiện gia đình khó khăn nên thường nhịn đói bữa sáng đến lớp.

Thương hoàn cảnh các em, nhà trường đã họp và đi đến thống nhất, mỗi buổi sáng sẽ nấu cháo cho các em ăn, không để em nào phải nhịn đói đến lớp. Tiền ăn sáng được trích từ chế độ hỗ trợ ăn bán trú của các em học sinh. Các thầy cô giáo thương học sinh nên bỏ công sức ra để lo cho các em có những bữa ăn sáng được đảm bảo.

Việc nấu cháo ăn sáng cho học sinh bán trú đã được các thầy giáo nơi đây thực hiện từ 3 năm nay.

46 thầy giáo gieo chữ nơi thâm sơn cùng cốc

Nơi thâm sơn cùng cốc, giữa thiếu thốn bủa vây, các thầy giáo Trường Tiểu học Tri Lễ 4 (xã biên giới Tri Lễ, Quế Phong, Nghệ An) vẫn miệt mài gieo chữ cho trò. Ở đây chưa có sóng điện thoại, nhiều điểm trường chưa có sóng vô tuyến. Thỉnh thoảng, có việc cần phải liên lạc ra ngoài xã, các thầy phải trèo lên đỉnh núi cao nhất hứng “sóng rớt” phập phù.

Từ khi thành lập đến nay đã ngót 40 năm, trường chưa bao giờ có nữ giáo viên. Có lẽ, tổ chức cũng hiểu và thông cảm cho chị em bởi nơi đây vẫn còn hoang sơ và thiếu thốn nhiều quá. Thứ duy nhất nối nơi này với bên ngoài là cung đường hiểm trở, nắng toàn sống trâu, mưa thì bùn lầy ngập nửa bánh xe máy.

Trường có 46 giáo viên nam, 6 giáo viên mới, có người mới về trường được 2 tuần. 378 học sinh chia làm 29 lớp ở 6 điểm trường, 100% là người Mông, nhiều em còn chưa biết nói tiếng phổ thông. Các thầy vừa là thầy, vừa là cha, vừa là mẹ, uốn nắn, nhẫn nại với đàn con thơ.

Chỉ có gần 1 nửa giáo viên của trường là người bản địa, còn lại là giáo viên người Kinh, người Thái ở nơi khác đến. Ngoài rèn luyện, trau dồi chuyên môn các thầy phải học thêm tiếng bản địa. Để các em có thể tiếp thu được bài học, có những khi thầy phải dạy “song ngữ” Việt – Mông.

Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, nói không buồn thì dối lòng. Các thầy cũng là con người, có vợ con, mang trên vai trọng trách của trụ cột trong gia đình. Nhưng ở đây giao thông cách trở, thông tin liên lạc bị gián đoạn, nhiều khi nhà có việc gấp hay con ốm, bố mẹ đau yếu cũng không thể giúp được gì. Gánh nặng lo toan trong gia đình đều dồn lên vai vợ.

Với những cống hiến không mệt mỏi, tháng 9/2017, các thầy giáo Trường Tiểu học Tri Lễ 4 đã giành chiến thắng ngoạn mục tại hạng mục “Nhân vật của năm” trong chương trình VTV Awards – 2017 do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức.

Mỹ Hà

Môn Tự nhiên lên ngôi, môn Xã hội “thất thế”

(Dân trí) – Tết năm nay tôi được giao một trọng trách đặc biệt của dòng họ là tư vấn tuyển sinh cho các cháu thi đại học sắp tới. Các anh chị luôn nghĩ tôi là người “sáng suốt” hơn cả trong dòng họ. Vì vậy mà chuyện này các anh chị đã ủy quyền cho tôi quyết định tương lai và số phận của các cháu.  >>   2 bất cập khi chọn ngành thời thượng

Ngay sau khi tập hợp các “sĩ tử”, tôi trao đổi hỏi han tình hình học tập của các cháu. Tôi thật mừng vì các cháu bây giờ hiểu biết xã hội hơn tôi ngày xưa rất nhiều. Các cháu thao thao bất tuyệt về các ngành nghề nóng nhất trong xã hội bây giờ. Thậm chí có cháu còn biết ngành gì bây giờ ra trường dễ xin việc mà lương lại cao. Có lẽ các cháu đã tham khảo trên mạng hết rồi. Cháu nào cũng mạnh dạn bày tỏ quan điểm của mình khi quyết định tương lai. Các cháu đều chọn tự nhiên và khá xem trọng ngành học.

Có điều tôi buồn nhất là các cháu có phần “xem nhẹ” các môn Xã hội. Các cháu đều cho rằng giờ ai chọn xã hội bị bạn bè chê là học dốt. Trong khi đó, chọn tự nhiên học hành vừa nhẹ nhàng, vừa có nhiều cơ hội khi chọn trường. Ngoài ra, Tự nhiên khi thi có rất nhiều lợi thế như có thể hỏi được bài nhau. Nhất là bây giờ thi theo hình thức trắc nghiệm.

Là một giáo viên dạy Văn, bản thân tôi cảm thấy thật buồn khi nghe các cháu chê bai môn học mình dạy. Có lẽ học sinh bây giờ đều không thích các môn học Xã hội mà nghiêng hoàn toàn về Tự nhiên. Ngay cả các phụ huynh cũng thế, ai cũng muốn con giỏi tự nhiên chứ ít khi vui mừng khi con giỏi các môn xã hội. Phụ huynh có thể bỏ ra rất nhiều tiền để đầu tư cho con học thêm các môn Tự nhiên để mong sau này con có tương lai. Có em đam mê các môn Xã hội như Văn, Sử, Địa nhưng phụ huynh lại luôn cấm cản. Họ cảm thấy không bằng lòng khi con thích học các môn xã hội.

Thực ra, lí do họ đưa ra không phải không có lí. Học Xã hội vừa cực, vừa ít ngành học. Bên cạnh đó học Xã hội ra cũng rất khó xin việc. Vì vậy mà các môn Xã hội bây giờ bị học sinh “quay lưng”.

Qua buổi trao đổi cùng các cháu, tôi hoàn toàn giật mình vì cách nghĩ của giới trẻ bây giờ. Các cháu rất thông minh và năng động. Đó là một điều chắc chắn. Điều này tôi thật sự mừng cho các cháu. Tuy nhiên cách nghĩ, cách lựa chọn ngành nghề của các cháu có phần thực dụng. Hầu hết các cháu chọn ngành không hẳn vì yêu ngành, nghề ấy mà vì ngành ấy sau này ra trường kiếm được nhiều tiền. Dường như các em bị đồng tiền chi phối nhiều hơn là những đam mê với nghề mình lựa chọn. Chỉ nghĩ đến đó thôi tôi đã cảm thấy lòng buồn vô cùng.

Nhớ lại thời đi học của tôi, chúng tôi lựa chọn ngành nghề hoàn toàn theo sở thích. Những năm tháng đi học tôi thích môn Văn và luôn khao khát được đứng trên bục giảng để truyền kiến thức cho học trò.

Ngay cả bây giờ sau gần 20 năm đi dạy cũng chưa bao giờ ân hận về nghề mình đã lựa chọn. Mỗi khi lên lớp nhìn đám học trò thơ ngây trong lòng tôi lại cảm thấy hạnh phúc tràn trề. Chưa bao giờ tôi tính toán thiệt hơn với nghề mình đã lựa chọn. Có lẽ, được làm công việc mình yêu thích là hạnh phúc lớn nhất trong đời tôi.

Mặc dù lòng cảm thấy rất buồn nhưng tôi vẫn động viên các cháu cố gắng, tập trung ôn tập để đạt kết quả cao trong kì thi tốt nghiệp và đại học sắp tới. Mong rằng các cháu – thế hệ trẻ tương lai của đất nước sẽ định hướng nghề nghiệp đúng với năng lực, sở thích của mình.

Loát Trần

(Tây Ninh)

8 quy tắc giáo dục kỳ quái bậc nhất thế giới

1. Phạt chống tay xuống đất

8 quy tắc giáo dục kỳ quái bậc nhất thế giới - 1

Các nước châu Á vốn nổi tiếng nghiêm khắc với học sinh và có thể đưa ra các hình phạt kỳ lạ. Một trong số đó là học sinh sẽ bị phạt dốc ngược người xuống đất với hai chân dựa vào tường và hai tay chống đất, hoặc quỳ và giơ hai tay qua đầu, thậm chí có thể bị tát tùy vào mức độ sai trái mà học sinh mắc phải.

2. Giới hạn thời gian vệ sinh

8 quy tắc giáo dục kỳ quái bậc nhất thế giới - 2

Một trường trung học ở Chicago, Mỹ giới hạn số lần một học sinh được phép rời khỏi lớp trong một buổi học để đi vệ sinh là 3 lần. Tất cả những việc ngoài lề còn lại đều phải thực hiện sau khi buổi học kết thúc. Hiệu trưởng ngôi trường giải thích rằng điều này nhằm hạn chế việc học sinh trốn học bằng cách đi vệ sinh.

3. Giờ ngủ trưa

8 quy tắc giáo dục kỳ quái bậc nhất thế giới - 3

Học sinh ở Trung Quốc được phép ngủ trưa 30 phút sau khi đã dùng bữa trưa. Giáo viên cho rằng giấc ngủ ngắn này sẽ giúp học sinh được cung cấp năng lượng và đầu óc cũng được nghỉ ngơi. Học sinh tiểu học có thể ngủ trưa trên bàn và được phép mang chăn, gối vào lớp. Còn học sinh trung học và phổ thông thường phải ngồi ngả ra bàn để ngủ, điều này khiến cột sống các em có thể bị phát triển lệch.

4. Không dùng lăn nách

8 quy tắc giáo dục kỳ quái bậc nhất thế giới - 4

Một trường trung học ở Pennsylvania, Mỹ đã cấm học sinh dùng lăn nách sau trường hợp một học sinh bị dị ứng nặng và phải đưa đến bệnh viện cấp cứu khi đang trong giờ học. Đây cũng không phải là trường hợp đầu tiên. Các trường học khác cũng bắt đầu cấm học sinh dùng lăn nách khi đến trường vì việc sử dụng quá nhiều dẫn đến các tình trạng dị ứng xuất hiện liên tục tại trường.

5. Không giơ tay khi muốn phát biểu

8 quy tắc giáo dục kỳ quái bậc nhất thế giới - 5

Một trường học ở Nottinghamshire, Anh đã bỏ quy tắc muốn phát biểu, học sinh cần giơ tay bởi nó đã quá lỗi thời và không hiệu quả. Việc giơ tay không khuyến khích tất cả học sinh cùng xây dựng bài học. Vì thế, hiện nay, giáo viên nên chọn bất kỳ học sinh nào để trả lời câu hỏi thay vì chỉ ưu tiên những em giơ tay.

6. Giáo viên không dùng mực đỏ chấm bài

8 quy tắc giáo dục kỳ quái bậc nhất thế giới - 6

Thông thường, giáo viên luôn dùng bút mực đỏ để đánh dấu các lỗi sai trong bài và chấm điểm cho học sinh. Nhưng nhiều trường học ở Vương quốc Anh và Úc đã cấm dùng loại mực này vì chúng gây tâm lý không tốt với trẻ em. Mực đỏ sẽ tạo áp lực và khiến học sinh, sinh viên cảm thấy không hứng thú hoặc chán việc học.

Thay vào đó, giáo viên có thể dùng bút màu xanh lá cây, hồng, vàng, tím và xanh dương sẽ giúp học sinh thấy thư giãn hơn.

7. Không nhắc đến từ “nghèo đói”, “sinh nhật”… trong bài kiểm tra

8 quy tắc giáo dục kỳ quái bậc nhất thế giới - 7

Bộ Giáo dục New York, Mỹ đã cấm sử dụng một số từ trong các bài kiểm tra chuẩn do thành phố ban hành. Một số học sinh theo giáo phái Jehovah’s Witnesses có thể không cảm thấy thoải mái khi nhắc về ngày sinh nhật. Hoặc những từ như nghèo đói, ly hôn, bệnh tật cùng hơn 40 từ khác cũng có thể gây tâm lý không tốt cho trẻ em có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

8. Không được có bạn thân khi đi học

8 quy tắc giáo dục kỳ quái bậc nhất thế giới - 8

Các trường học ở Anh và các nước khác đang bắt đầu cấm học sinh, sinh viên có bạn thân khi đi học. Nhiều phụ huynh, giáo viên và các nhà tâm lý học cho rằng trẻ em sẽ phát triển hoàn chỉnh khi chơi cùng một nhóm bạn. Nghĩa là chúng sẽ chẳng bao giờ có cảm giác bị bỏ rơi.

Trong khi đó, các nhà phê bình lại phản bác rằng bạn thân sẽ giúp đỡ và đồng hành cùng trẻ trong khoảng thời gian dài hơn. Một nghiên cứu của tổ chức Child Development chỉ ra những người có bạn thân thường có sức khỏe và tinh thần luôn tốt hơn.

10 điểm đặc biệt của nền giáo dục Trung Quốc

Tại nước chủ nhà của vòng chung kết U23 châu Á, nền giáo dục có những điểm kỳ lạ khiến ai cũng tò mò.